Chào mừng đến với trang thông tin điện tử Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS Thanh Hóa - Chúc mừng ngày 27/2!
số lượt truy cập
24
Hôm nay: 29
Số người trực tuyến: 8
Đánh giá một số kết quả hoạt động phòng chống HIV/AIDS cho đồng bào dân tộc Thái huyện Quan Hóa, năm 2010
Cập nhật lúc: 05:21 PM ngày 11/12/2018
TÓM TẮT Số người nhiễm HIV ở khu vực miền núi Thanh Hoá ngày một tăng. Các hoạt động truyền thông phòng chống HIV/AIDS tại khu vực này gặp nhiều khó khăn do điều kiện đi lại, dân cư thưa, trình độ học vấn và nhận thức của người dân thấp. Mục tiêu nghiên cứu: đánh giá kết quả của chương trình truyền thông phòng chống HIV/AIDS cho người dân tộc Thái tại huyện Quan Hoá từ tháng 6/2006 đến tháng 6/2010 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu so sánh trước và sau can thiệp, kết hợp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính trên cộng đồng nam, nữ người dân tộc Thái 15 - 49 tuổi và các ban ngành liên quan tại huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa, năm 2010. Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ có kiến thức đúng về HIV/AIDS sau can thiệp là 56,6 % so với trước can thiệp 48%. Trước can thiệp kiến thức về dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con trước, trong, sau khi o sinh con là: 89,8%, 75,5% và 69,2%; sau can thiệp là: 93,2%, 88,4% và 78,2% với p<0,05. Sau can thiệp

ĐẶT VẤN ĐỀ: Thanh Hóa phát hiện ca nhiễm HIV đầu tiên năm 1995 cho đến tháng 5/2010 đã phát hiện trên 4,500 trường hợp. Số nhiễm HIV ở khu vực miền núi Thanh Hoá, nhất là các dân tộc thiểu số ngày một tăng. Trong khi đó, do kinh tế nghèo, điều kiện đi lại khó khăn, dân cư thưa, trình độ học vấn và nhận thức của người dân chưa cao làm trở ngại không nhỏ tới kết quả của công tác truyền thông giáo dục về phòng chống HIV/AIDS. Cần có nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả của chương trình truyền thông phòng chống HIV/AIDS tại huyện Quan Hoá năm 2010 và rút ra bài học kinh nghiệm. Do đó,
Mục tiêu của nghiên cứu:
Đánh giá về sự thay đổi kiến thức, thái độ, hành vi và thực hành phòng chống HIV/AIDS.
Tìm hiểu một số yếu tố thuận lợi và khó khăn trong việc triển khai chương trình truyền thông phòng chống HIV/AIDS trên cho người dân tộc Thái .
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu can thiệp có đánh giá theo mục tiêu, kết hợp nghiên cứu định lượng với định tính và hồi cứu số liệu thứ cấp từ tháng 6/2006 đến tháng 6/2010.
Nghiên cứu định lượng: Điều tra KABP cho nhóm đối tượng nghiên cứu là người Thái tuổi 15-49 tại hộ gia đình, có thời gian sống liên tục tại địa bàn nghiên cứu từ 1 năm trở lên. Cỡ mẫu điều tra là 800 mẫu. Kết quả của điều tra được so sánh với kết quả điều tra của nghiên cứu KAPB tháng 6/2006. Số liệu sau khi được nhập bằng phần mềm EPI DATA và phân tích bằng phần mềm SPSS 14.0.
Nghiên cứu định tính: Tiến hành 31 phỏng vấn sâu và 2 cuộc thảo luận nhóm. Đối tượng là người dân cộng đồng, cán bộ lãnh đạo cộng đồng, cán bộ làm công tác phòng chống HIV/AIDS. Xử lý thông tin qua gỡ băng ghi âm các cuộc phỏng vấn sâu, các thông tin sẽ được mã hoá, tổng hợp và trích dẫn theo mục tiêu nghiên cứu.

KẾT QUẢ
Tuổi và giới của người tham gia nghiên cứu
Sự phân bố tuổi của những người từ 15-49 tuổi là khá tương đồng nhau. Tuy nhiên, tỷ lệ nhóm tuổi từ 20-25 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 19,3%, đây cũng là nhóm tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất trong tất cả các nhóm tuổi. Tỷ lệ nam/nữ của những người từ 15-49 tuổi nhìn chung cũng tỷ lệ tương ứng với sự phân bố nam/nữ trong tất cả các hộ gia đình nói chung được chọn vào nghiên cứu này.

 Tính di biến động của người tham gia nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, đa số người trả lời có số năm sống tại địa bàn nghiên cứu trên 5 năm. Nghiên cứu cho ta thấy tỷ lệ người tham gia nghiên cứu đã từng đi xa và không ngủ lại nhà trong 1 năm qua là 16,0%. Kết quả phân tích cho thấy số lần không ngủ lại nhà trong 1 năm qua trung bình là 8,6 lần với giá trị trung vị là 2 lần , như vậy có thể thấy không có sự di biến động nhiều trong năm qua của đồng bào dân tộc Thái tại địa bàn điều tra.

Trình độ học vấn của người tham gia nghiên cứu

Trong nghiên cứu trước can thiệp và sau can thiệp, hầu hết đối tượng nghiên cứu có trình độ học vấn từ bậc phổ thông trung học trở xuống, số người có trình độ cao đẳng/đại học chiếm tỷ lệ rất thấp nghiên cứu năm 2006 (3,5%) và 2010 (3,9%).

Kết quả tiếp cận với các can thiệp

Tỷ lệ người dân nhận được tài liệu truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS từ cán bộ y tế cao nhất sau can thiệp là 86,5% tăng 1% so với trước can thiệp; tiếp theo là từ tài liệu truyền thông như tờ rơi, tờ bướm chiếm tăng lên 12% so với trước can thiệp (p<0,001).
Tỷ lệ người nhận được BCS, BKT trong 1 năm qua đều tăng lên so với trước can thiệp. Ngoài ra cũng có tới gần 1/5 số người nhận được dịch vụ khám chữa bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs) so với trước can thiệp tỷ lệ này là 12,1% (p<0,001).

Thay đổi kiến thức về phương pháp phòng tránh HIV

Tỷ lệ có kiến thức đúng về HIV tăng trên 8% so với điều tra năm 2006. Kiến thức về dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con trước, trong và sau khi sinh con tăng gần 4% so với trước can thiệp (p<0,05). Trước can thiệp chỉ có ¼ đối tượng nghiên cứu biết hiện đã có thuốc dự phòng giảm lây truyền HIV từ mẹ sang con và gần 41% biết hiện có thuốc điều trị HIV, nhưng trong sau can thiệp đã tăng lên là 43,4% và 67,8% (p<0,05).

Thái độ phân biệt đối xử đối với người sống chung với HIV/AIDS

Trong kết quả trước can thiệp tỷ lệ người cho biết không có thái độ kỳ thị với người nhiễm HIV chỉ chiếm khoảng 2/3 tổng số người tham gia nghiên cứu: tỷ lệ người cho biết sẽ mua rau của người nhiễm HIV và không muốn giấu chuyện người thân bị nhiễm HIV tăng gần 2 lần so với sau can thiệp; cho phép giáo viên tiếp tục dậy học tăng gần 10% so với trước can thiệp. Riêng đối với việc khi được hỏi về việc sẵn lòng chăm sóc người thân bị nhiễm HIV thì tỷ lệ trả lời gần 94%, tăng gần 6% so với trước can thiệp (p<0,001). Các tỷ lệ người có thái độ tích cực với người nhiễm HIV cho thấy đã có sự chuyển biến tốt về HIV trong nhóm dân tộc Thái tại địa bàn điều tra.

Các hoạt động truyền thông phòng chống HIV/AIDS:

Kết quả phỏng vấn sâu cán bộ y tế: “Phương tiện truyền thông phòng, chống HIV/AIDS thiếu, tài liệu truyền thông chưa đa dạng và số lượng không đủ so với yêu cầu. Cán bộ y tế còn thiếu và yếu. Đồng đẳng viên trình độ thấp, điều kiện kinh tế khó khăn, thường xuyên biến động và hầu hết vẫn còn sử dụng ma tuý...”.
Kết quả phỏng vấn sâu người nghiện chích ma tuý địa phương: “Trước đây (năm 2006) người nghiện chích ma tuý không dám lộ diện, nhưng hiện nay họ đã tham gia các hoạt động như nhận và cấp bơm kim tiêm, bao cao su và tài liệu truyền thông. Trong số các đồng đẳng viên vẫn còn một số người sử dụng ma tuý...”.
Kết quả phỏng vấn sâu người nhiễm HIV/AIDS “Các cộng tác viên phòng chống HIV/AIDS đến tận nhà để truyền thông, nói chuyện và giúp đỡ nên người có HIV đã bớt mặc cảm với cộng đồng. Có nhiều người nhiễm HIV đã tham gia đi tuyên truyền cùng với cộng tác viên ...”
Kết quả phỏng vấn sâu cán bộ Phòng Thông tin-Giaó dục-Truyền thông huyện : “Đài truyền thanh, truyền hình huyện ước tính bao phủ từ 30-35% cộng đồng ”. Kết quả phỏng vấn sâu người dân cộng đồng ở các xã cách thị trấn trên 3 km cho thấy: “không nghe được thông tin từ đài truyền thanh huyện...”. Kết quả thảo luận nhóm với người dân cộng đồng, người nghiện chích ma tuý và người nhiễm HIV: “Các hoạt động tuyên truyền chủ yếu là lồng ghép qua họp thôn bản, cấp tờ rơi, trên loa đài phát thanh và cán bộ y tế đến hộ gia đình; thông tin trên loa đài rất cần thiết, tuy nhiên thời gian phát chưa thích hợp, hệ thống loa truyền thanh xã không bao phủ được các thôn bản nên nhiều thôn bản không nhận được thông tin...” Kết quả phỏng vấn sâu cán bộ Phòng Văn hoá thông tin xã: “Mặc dù rất cố gắng nhưng mạng lưới loa đài phát thanh xã chỉ tập trung được gần trung tâm xã, các thôn bản ở xa trung tâm không có...” .

BÀN LUẬN

Sự thay đổi về kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống HIV/AIDS: So với vòng điều tra trước, kiến thức của người dân tộc Thái trên địa bàn điều tra đã có những chuyển biến đáng kể. Cùng với sự thay đổi của kiến thức về HIV, thái độ của người dân cũng đã có những thay đổi theo chiều hướng tích cực. Sự kỳ thị cũng đã giảm đáng kể thông qua sự thay đổi của một loạt các chỉ số, tỷ lệ người sẵn lòng mua rau/thức ăn của người nhiễm HIV đã tăng từ 38,6% năm 2006 lên 69,8% năm 2010; tỷ lệ người không muốn giữ kín chuyện người thân bị nhiễm HIV năm 2006 là 37,7% tăng lên 68,7% năm 2010; tỷ lệ người cho biết sẵn lòng chăm sóc người thân bị nhiễm HIV tăng từ 88,8% năm 2006 lên 93,8% năm 2010 và tỷ lệ người cho phép giáo viên nhiễm HIV tiếp tục dậy học tăng từ 62,7% năm 2006 lên 71,8%. Tuy nhiên sự kỳ thị với người nhiễm HIV/AIDS vẫn còn trong cộng đồng người dân tôc Thái. Điều này chứng tỏ mặc dầu nhìn chung cộng đồng người dân tộc Thái đã có kiến thức tốt về HIV/AIDS, nhưng sự nghi ngại về sự lây truyền vẫn còn trong họ đối với người nhiễm HIV.
Các yếu tố tác động đến kết quả các hoạt động can thiệp: Việc triển khai hoạt động can thiệp tại cộng đồng của đồng bào dân tộc thiểu số là công việc khó khăn, phải thực hiện tốt từ việc vận động được sự ủng hộ của chính quyền các cấp, những người có uy tín trong cộng đồng như già làng, trưởng bản đến việc tổ chức và vận động được đối tượng đích tham gia. Một số hoạt động phòng, chống HIV/AIDS thiếu tính thường xuyên, nội dung và hình thức đôi khi chưa phù hợp. Mặt khác cán bộ chương trình, cộng tác viên, đồng đẳng viên còn thiếu và yếu, nhất là đồng đẳng viên số lượng ít, trình độ thấp, điều khiện khó khăn, thường xuyên biến động và hầu hết vẫn còn sử dụng ma tuý. Vì vậy khi triển khai chương trình cần lưu ý: người làm công tác phòng, chống HIV/AIDS ngoài chuyên môn và sức khoẻ, cần có lòng nhiệt tình, chịu đựng được khó khăn, dễ hoà đồng, ít nhiều biết tiếng và am hiểu phong tục, tập quán đồng bào, tốt nhất là người địa phương. Hình thức truyền thông hiệu quả ở khu vực miền núi, biên giới là truyền thông trực tiếp và qua các cuộc họp, trên phương tiện thông tin đại chúng như tivi, tranh ảnh và tờ rơi. Qua kết quả điều tra cho thấy ngôn ngữ tiếng Thái hiện tại cộng đồng chỉ sử dụng để giao tiếp, bằng chữ viết gần như không sử dụng. Vì vậy dùng tài liệu truyền thông 2 thứ tiếng là không cần thiết, chỉ cần sử dụng tiếng phổ thông là được. Tài liệu tuyên truyền cần ngắn gọn, xúc tích, dễ nhớ và dễ thực hiện, có lồng chữ viết, tiếng nói và hình ảnh các dân tộc. Nên tổ chức các hoạt động truyền thông mang tính tập trung đông người và sân khấu hoá, lồng ghép giữa truyền thông với các hoạt động văn hoá văn nghệ, nhất là tổ chức các hội thi nhằm thu hút nhiều người và tăng tính tò mò của đồng bào các dân tộc.
Phần lớn đồng bào dân tộc không theo tôn giáo, chủ yếu là thờ tổ tiên, nhưng lại mê tín và hay cúng bái, tổ chức cưới xin và ma chay dài ngày, hay tụ tập ăn uống, rượu chè và dễ xảy ra các tệ nạn xã hội.


KẾT LUẬN


- Có sự tăng lên về kiến thức phòng chống HIV/AIDS của người dân cộng đồng. Sự kỳ thị đối với người nhiễm HIV cũng đã giảm đáng kể.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến chương trình truyền thông phòng chống HIV/AIDS: Phương tiện phòng, chống HIV/AIDS còn thiếu và nghèo nàn; Cán bộ chương trình, cộng tác viên, đồng đẳng viên thiếu và yếu, nhất là đồng đẳng viên trình độ thấp, điều khiện kinh tế khó khăn, thường xuyên biến động và hầu hết vẫn còn sử dụng ma tuý; về tài liệu truyền thông chưa đa dạng, số lượng chưa đáp ứng được nhu cầu; chưa đa dạng phương thức truyền thông phù hợp với phong tục tập quán của người dân tộc Thái.


Từ khoá: Miền núi Thanh Hoá; dân tộc Thái 15-49 tuổi ; truyền thông phòng chống HIV/AIDS; nghiên cứu so sánh trước và sau can thiệp truyền thông; kiến thức phòng lây nhiễm HIV; thái độ phân biệt, kỳ thị với người nhiễm HIV.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Bộ Y tế & Tổng cục thống kê (2003), Mức độ bao phủ của các chương trình y tế công cộng, Hà Nội, tr. 95-102.
2. Bộ Y tế (2008), Chương trình phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.
3. Bộ Y tế (2004), Quản lý chương trình phòng, chống HIV/AIDS, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.
4. Cục Phòng chống HIV/AIDS (2008), Thông tin giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi phòng, chống HIV/AIDS (Tài liệu đào tạo truyền thông viên), Cục Phòng chống HIV/AIDS Hà Nội.
5. Dự án cộng đồng hành động phòng chống AIDS (2005), Đánh giá hiệu quả dự án cộng đồng hành động phòng chống AIDS tại Điện Biên, Quảng Trị, Kiên Giang và Đồng Tháp, Hà Nội.
6. Dự án phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam (2007), Tài liệu đào tạo "Thông tin, giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi phong, chống HIV/AIDS", Dự án phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam, Hà Nội, tr. 76-88.
7. Hà Thị Gương (2008), Đánh giá một số kết quả về quản lý và kiến thức, thái độ, thực hành của người dân từ 15-49 tuổi trong chương trình phòng, chống HIV/AIDS tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, năm 2008, Luận văn thạc sĩ Y tế Công cộng, Trường Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội.
8. Nguyễn Phương Hoa (2006), Đánh giá kiến thức, hành vi nguy cơ và tỉ lệ nhiễm HIV, Giang mai trong nhóm đồng bào dân tộc Thái tại huyện Quan Hóa và Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa, Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Thanh Hóa, Thanh Hóa.
9. Vũ Văn Hoàn (2007), Đánh giá chương trình can thiệp truyền thông thay đổi kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS qua đĩa hình cho thanh thiếu niên dân tộc Thái 14 - 24 tuổi tại xã Tông Lạnh huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La, Luận văn thạc sĩ Y tế Công cộng, Trường Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội.
10. Khuất Thu Hồng & Nguyễn Thị Vân Anh (2004), Tìm hiểu sự kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan tới HIV/AIDS ở Việt Nam, Hà Nội.
11. Quốc Hội (2007), Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch ở người (HIV/AIDS), Nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội, tr. 3-31.
12. Sở Y tế Thanh Hóa (2008), Thông báo kết quả điều tra tỉ lệ nhiễm HIV, Giang mai và các hành vi nguy cơ nhiễm HIV của đồng bào dân tộc Thái năm 2006, Thanh Hóa.
13. Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Thanh Hóa (2010), Báo cáo tình hình nhiễm HIV/AIDS ở Thanh Hóa, Thanh Hóa.
14. Trung tâm y tế huyện Quan Hóa (2006), Báo cáo kết quả hoạt động phòng, chống HIV/AIDS của huyện Quan Hóa từ tháng 1/2006 đến 12/2006, Thanh Hóa.
15. Trung tâm y tế huyện Quan Hóa (2009), Báo cáo hoạt động phòng, chống HIV/AIDS của huyện Quan Hóa từ 1/2009 đến 12/2009, Thanh Hóa.
Tiếng Anh
16. Abdul khalicque Ghauri, Rehman. N (2002), Sexual behavior and practices of injecting drug users, Beijing, China.

17. UNAIDS & WHO (2009), AIDS epidemic update, pp. 6-13
18. USAID (2003), HIV/AIDS in the Mekong region, Washington-USA.

 

 


ASSESSING SOME RESULTS OF THE COMMUNICATION PROGRAM ON HIV/AIDS PREVENTION AMONG THAI ETHNIC MINORITY, IN QUAN HOA DISTRICT, THANH HOA PROVINCE, 2010


*MA. Yen Hoang Binh; **PHD. Kinh Nguyen Van
*Thanh Hoa provincial AIDS centre
** National hospital of tropical diseases

ABSTRACT
Introduction: The number of HIV infected people in the mountainous districts of Thanh Hoa Province has been increasing. Communication activities on HIV/AIDS prevention at these areas are limited because of needy conditions, low density of population, low educational level and social knowledge.
Objective: Assessing results of the communication program on HIV/AIDS prevention and control for Thai ethnic minority in Quan Hoa district, Thanh Hoa Province from 6/2006 – 6/2010.
Subjective and method: pre-and post intervention research combined with qualitative and quantitative research among Thai ethnic minority aged 15-49 and related branches at Quan Hoa district, Thanh Hoa Province, 2010.
Results: The proportion of interviewees who had correct understanding about HIV/AIDS is 48% for pre-intervention and 56,6% for post-intervention. The knowledge about prevention mother to child transmission of HIV pre-intervention through pregnancy is 89,8%, during delivery is 75,5% and after delivery is 69,2% and these proportion after intervention are 93,2%, 88,4% và 78,2% , respectively (p<0,05). After intervention, the proportion of participants who agreed to buy vegetables from HIV infected sellers increased up 69,8%, twice more compared with it pre-intervention (p<0,001); The proportion of people who do not hide their relatives’ HIV status is 68,7% compared with 37,7% before intervening; There is a slightly increase between pre-intervention (62,7%) and post-intervention (71,8%) in point of view to allow HIV infected teachers to continue teaching. These changes are positive and have statistically significant level of 0.001. The HIV/AIDS communication program has been implementing for some years. Majority of participants got information on HIV/AIDS via communication groups at small scale or integrated communication turns with meetings at village level. About 50% of participants received information on HIV/AIDS prevention through local broastcasting system.
Conclusion: Knowledge about HIV/AIDS among Thai ethnic minority increased; stigma and discrimination against PLWH reduced remarkably. Conditions for and means of communication have not been equiped well. There is a lot of integrated communication method, however, the most suitable and focused one has not been selected.

Keyword: The mountainous districts of Thanh Hoa Province; Thai ethnic minority aged 15-49 ; Communication activities on HIV/AIDS prevention; pre-and post intervention research; knowledge about HIV/AIDS; stigma and discrimination against PLWH.


  Chia sẻ: Share on Facebook Google Share on LinkHay Share on Go Share on Zing

Thông báo
Thông tin truyền thông
Hình ảnh hoạt động
Liên kết website