Chào mừng đến với trang thông tin điện tử Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS Thanh Hóa - Nhiệt liệt hưởng ứng Tháng Hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS năm 2018 !
số lượt truy cập
105
Hôm nay: 25
Số người trực tuyến: 7
Mô hình điều trị thay thế chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại tuyến xã, huyện Quan Hóa từ 4/2015 đến 4/2016
Cập nhật lúc: 04:53 PM ngày 11/12/2018
TÓM TẮT Tháng 4 năm 2015, Thanh Hóa đã chuyển thí điểm dịch vụ nghiện chất dạng thuốc phiện bằng Methadone đến Trạm Y tế xã Thành Sơn, huyện miền núi Quan Hóa. Qua 1 năm triển khai, chương trình điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại tuyến xã ở Thanh Hoá đã thu được một số kết quả đạt yêu cầu của chương trình, từ đó đặt ra nhu cầu cần mở rộng điều trị cho các xã khác. Mục tiêu nghiên cứu: Một số kết quả điều trị Methadone tại tuyến xã, huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hóa từ tháng 4 năm 2015 đến 4 năm 2016 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả, kết hợp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính trên 108 bệnh nhân trong giai đoạn ổn định liều, người hỗ trợ trực tiếp bệnh nhân, cán bộ y tế điều trị trực tiếp cho bệnh nhân. Kết quả nghiên cứu: Mô hình được triển khai nằm trong khuôn viên và lồng ghép vào hoạt động của Trạm Y tế, cán bộ trạm y tế tham gia là người trực tiếp làm công tác điều trị và cấp thuốc Methadone.

ĐẶT VẤN ĐỀ: Huyện Quan Hóa là huyện miền núi phía tây, tỉnh Thanh Hóa là một trong những huyện có số người nhiễm HIV trong tỉnh. Huyện Quan Hóa là nơi sinh sống của các đồng bào dân tộc thiểu số: Thái, H'mông, Mường, Mông và Hoa. Tình hình nghiện chích ma tuý là một vấn đề nóng bỏng của cộng đồng. Huyện Quan Hóa hiện có 700 đối tượng nghiện ma tuý (chiếm 1,6 % dân số của huyện, trong đó có gần 90% là thanh thiếu niên) với 74 tụ điểm buôn bán bán ma tuý tại thi trấn. Đối tượng nghiện nằm trong nhóm tuổi từ 15 đến 55 tuổi, trong đó phần lớn là ở lứa tuổi 15 đến 35 tuổi. Tại huyện Quan Hoá triển khai chương trình điều trị thay thế chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone từ tháng 12 năm 2013. Có 2 mô hình cùng triển khai, một tại Trung tâm Y tế huyện và một tại Trạm Y tế xã. Xã Thành Sơn và xã Trung Thành huyện Quan Hóa là địa bàn triển khai mô hình điều trị Methadone tại trạm y tế đưa vào hoạt động từ tháng 4/2015.
Qua 1 năm hoạt động, việc triển khai một đánh giá đầu tiên dựa trên số liệu sẵn có từ việc chỉ đạo, điều phối và triển khai chương trình là điều cần thiết trong việc lên kế hoạch đầu tư và duy trì và mở rộng điều trị bằng MMT ở tỉnh Thanh Hóa.
Mục tiêu của nghiên cứu:
Mô tả công tác triển khai và các yếu tố ảnh hưởng đến triển khai mô hình điều trị Methadone tại xã Thành Sơn, huyện Quan Hoá.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cắt ngang mô tả: Định lượng kết hợp định tính và hồi cứu các hồ sơ bệnh án của 108 bệnh nhân đang tham gia điều trị, 16 cán bộ y tế và 32 người hỗ trợ bệnh nhân.
KẾT QUẢ
Cơ sở điều trị Methadone đặt trong khuôn viên của Trạm Y tế, tận dụng một phòng 15m2 làm kho thuốc và cấp phát thuốc, lồng ghép sử dụng các phòng chức năng của Trạm Y tế. Nhìn chung thuận tiện cho việc đi lại của bệnh nhân và nhân viên y tế của cơ sở điều trị“Thuận lợi thứ 1 là môi trường người nghiện ma túy cảm thấy thuận lợi, an toàn, thứ 2 là việc điều trị Methadone này có thể gắn liền việc chăm sóc và điều trị khác. Ví dụ nếu họ là bệnh nhân AIDS đang điều trị ARV thì như vậy bác sỹ điều trị ARV, tư vấn viên về ARV sẽ dễ dàng phối hợp với bác sỹ điều trị Methadone và tư vấn điều trị Methadone. Như vậy chăm sóc cho người bệnh sẽ tốt hơn rất nhiều.” (Đại diện lãnh đạo Sở Y tế)
Nguồn nhân lực và một phần chi phí vận hành hiện tại hỗ trợ từ kinh phí của tỉnh. Thuốc Methadone bệnh nhân uống hàng ngày là từ chương trình dự án Qũy toàn cầu phòng chống HIV/AIDS. Cơ sở điều trị có các phòng tiếp đón, khám, tư vấn, xét nghiệm lồng ghép vào các phòng làm việc của Trạm Y tế đảm bảo theo qui định và cũng có cơ hội liên kết với các dịch vụ điều trị ARV, tư vấn và xét nghiệm tự nguyện. Bệnh nhân tìm hiểu về chương trình điều trị qua các nguồn thông tin là bạn bè, ti vi, qua mạng internet, hội phụ nữ, người nhà đi tìm hiểu. Lứa tuổi chủ yếu (trên 80%) tham gia điều trị là từ 20-39 tuổi; đa phần là nam giới(97,2%) tham gia điều trị; đa phần là người dân tộc Thái (86,1%); trình độ học vấn mù chữ (20,4%), phổ thông trung học trở lên (11,1%). Trước điều trị bệnh nhân đa phần là không có việc làm mà ở nhà làm ruộng, làm nương rẫy (88%)%, làm lái xe (3,7%) và lao động thời vụ cho các công ty (8,3%).
Vận động chính sách: Tổ chức hội nghị vận động có sự tham gia của các ban ngành trong xã đã tạo sự ủng hộ, đồng thuận của nhân dân và các ngành chức năng đối với mô hình được triển khai một cách thống nhất. Từ đó đã triển khai, phổ biến đến tận thôn/bản, đến các trường học và đến những người nghiện ma tuý ở cộng đồng.
Quản lý, chỉ đạo, kiểm tra và giám sát: Thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Y tế về “Điều trị nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone”. Các văn bản qui định và hướng dẫn tổ chức thực hiện kèm với các biểu mẫu báo cáo, giám sát cũng đã được ban hành để làm cơ sở thực hiện. Chương trình đã nhận được sự quan tâm của ngành Y tế Thanh Hóa nên việc chỉ đạo, hỗ trợ, kiểm tra và giám sát được thực hiện chặt chẽ định kỳ hàng tháng, hàng quý và hỗ trợ khi cần thiết. Ngoài ra, TTYT huyện Quan Hóa chịu trách nhiệm giám sát thường xuyên hàng tuần các hoạt động tại cơ sở điều trị. Trung tâm Y tế chịu trách nhiệm quản lý, giám sát các hoạt động chỉ tiêu của cơ sở cấp điều trị Methadone tại Trạm Y tế “...hàng tháng và hàng quý, kiểm tra định kỳ hàng tháng đối với việc quản lý thuốc. Hiện tại toàn bộ quản lý thuốc đều tuân thủ theo đúng quy định của Bộ Y tế” (Đại diện lãnh đạo Sở Y tế). Nhìn chung, với cơ chế chỉ đạo, quản lý và giám sát này, chương trình đã được triển khai rất thuận lợi, các hoạt động đã dần đi vào ổn định và những khó khăn, vướng mắc ban đầu đã được giải quyết kịp thời“Thuận lợi là có chủ trương từ trung ương và tỉnh, có hướng dẫn cụ thể của Bộ Y tế, có sự hợp tác, hỗ trợ về tài chính, về kỹ thuật, về kinh nghiệm của các tổ chức quốc tế thì đó là những thuận lợi.” (Đại diện lãnh đạo UBND huyện Quan Hóa)
Nhân lực của cơ sở điều trị: Số lượng nhân viên tại cơ sở điều trị đặt tại Trạm Y tế có 01 nhân viên cấp phát thuốc 100% thời gian, 02 cán bộ của trạm y tế kiêm nhiệm, bác sỹ trưởng trạm y tế là người kiêm nhiệm phụ trách cơ sở điều trị sẽ phân công và điều phối nhân sự tại Trạm Y tế và cơ sở điều trị Methadone để hoàn thành công việc. Hầu hết việc khám và cấp phát thuốc cho bệnh nhân diễn ra vào buổi sáng. Buổi chiều các nhân viên dành thời gian để hoàn thiện biểu mẫu, bệnh án, kiểm tra sổ sách, làm các thủ tục cho bệnh nhân mới và làm vệ sinh cơ sở điều trị v.v. Tất cả đều đã trải qua lớp tập huấn cơ bản và nâng cao về chuyên môn về điều trị Methadone do Trường Đại học Y Ha Nội đào tạo.
Khó khăn của nhân viên ở cơ sở điều trị tuyến xã là điều kiện làm việc và các chế độ đãi ngộ, đặc biệt là vào những vào những ngày cao điểm trong tháng chỉ còn lại 1 cán bộ 100% thời gian làm nhiệm vụ cấp phát thuốc. Hiện vào thời điểm nghiên cứu có 128 bệnh nhân đang uống thuốc tại cơ sở điều trị nhưng gần như toàn bộ nhân viên làm việc tại đây đều cho rằng họ bị quá tải vì công việc, đặc biệt là bác sĩ điều trị, tư vấn viên và điều dưỡng“Bệnh nhân càng lúc càng tăng lên thì lượng bệnh nhân mình khám càng lúc càng nhiều. Hiện tại hàng ngày chúng tôi phải khám cho bệnh nhân đến trạm nói chung và bệnh nhân đến điều trị Methadone nói riêng…1 tháng chúng tôi còn có 2 ngày tiêm chủng, cho uống vitamine A…. Vì vậy, với lượng bệnh nhân khoảng 100 người đến uống thuốc Methadone là vừa đủ cho mô hình đặt tại trạm.” (Trưởng Trạm Y tế xã Thành Sơn).
Tuy vậy, ý kiến chung của tất cả những người được phỏng vấn về cơ sở vật chất của cơ sở điều trị là: Cửa của các bộ phận trong cơ sở điều trị thì chắc chắn trong khi cửa chung đi vào cơ sở còn khá lỏng lẻo nên bảo vệ khó bảo đảm an toàn tuyệt đối cho cơ sở điều trị. Vệ sinh môi trường chung quanh cơ sở điều trị không tốt vì bệnh nhân khạc nhổ, tiểu tiện không đúng chỗ, vứt bừa bãi bơm kim tiêm ra xung quanh và nhiều hàng quán mọc lên xung quanh cơ sở điều trị.
Trang thiết bị và thuốc methadone: Cơ sở điều trị đã được trang bị đầy đủ các phương tiện và thuốc men tối thiểu để hoạt động hiệu quả. Việc xuất, nhập và bảo quản thuốc đang được thực hiện theo những qui định của Cục Quản lý Dược - Bộ Y tế. Qua đó, thuốc được cấp đến cơ sở điều trị định kỳ hàng tháng dựa vào nhu cầu đề xuất của cơ sở điều trị và theo một qui trình giám sát và xét duyệt chặt chẽ của Sở Y tế và Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS Thanh Hóa, Công ty Dược Phẩm Trung ương I và Cục Phòng, chống HIV/AIDS. 100% cán bộ cho biết việc cung cấp thuốc Methadone được tiến hành khá kịp thời và đầy đủ. Theo các dược sỹ tại cơ sở điều trị, phòng lưu giữ thuốc hiện tại đã được trang bị phương tiện đầy đủ để bảo quản chất lượng thuốc và tránh mất mát thuốc.
Tính đến thời điểm phỏng vấn, đã xảy ra 1 lần chậm cung ứng thuốc cho các cơ sở điều trị làm ảnh hưởng đến tiến độ xét chọn và điều trị bệnh nhân, trong đó có nguyên nhân từ việc cơ sở chậm gửi dự trù lên tuyến trên,liều điều trị thực tế cho bệnh nhân cao hơn nhiều so với dự kiến ban đầu, quy trình nhập khẩu thuốc phức tạp.
Mỗi cơ sở điều trị đều được trang bị một cơ số thuốc cấp cứu, tuy nhiên, theo các nhân viên ở đây cho biết việc trang bị như vậy chưa đủ đảm bảo tối thiểu để cấp cứu bệnh nhân (ý kiến của 32% cán bộ tham gia phỏng vấn). Các trang thiết bị cấp cứu cần thiết khác như bình ô-xy hoặc các phương tiện hỗ trợ hô hấp cũng như một số loại thuốc điều trị thông thường (như hạ sốt, giảm đau, giảm táo bón, thuốc bổ thông thường) chưa có mặc dù Bộ Y tế đã quy định các cơ sở điều trị Methadone phải có đủ cơ số thuốc cấp cứu theo quy định của Bộ Y tế.
Những khó khăn và hạn chế của quá trình vận động chính sách được ghi nhận là: Hành vi tiêm chích ma tuý là vi phạm pháp luật nên khi chính quyền tuyên truyền thực hiện mô hình, một số bệnh nhân và gia đình còn ngại ngùng và chưa thực sự tin tưởng để đăng ký tham gia. Một số ban ngành chức năng còn cảm thấy lúng túng, khó xử do vướng mắc chỉ tiêu cai nghiện bắt buộc hàng năm. Thực tế cho thấy, công tác điều trị Methadone được tuyên truyền rộng rãi và ngày càng có nhiều người tham gia thì chỉ tiêu cai nghiện bắt buộc do cấp trên giao cho xã là khó hoàn thành. Từ đó, một vài nơi đã tự giảm tuyên truyền vận động đối tượng tham gia điều trị Methadone nhằm dung hòa các chỉ tiêu được giao “Hiện nay là đối với cái việc cai nghiện thì ngoài cái methadone ra còn có các hình thức cai nghiện tập trung khác. Bây giờ, nếu mà chúng ta thiên về methadone nhiều quá thì…các cái lĩnh vực cai nghiện khác sẽ gặp nhiều khó khăn” (Trưởng công an xã).

BÀN LUẬN
Cơ sở điều trị Methadone hoạt động theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Nhân lực được tập huấn và có số lượng đầy đủ theo quyết định phê duyệt triển khai thí điểm điều trị nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone. Đảm bảo để Cơ sở hoạt động khám bệnh, tư vấn và cấp phát thuốc cho bệnh nhân hàng ngày.
Để điều trị cho bệnh nhân được tốt hơn bác sỹ cần tập huấn chuyên sâu về kỹ năng điều trị Methadone cho bệnh nhân đang điều trị ARV hoặc đang điều trị lao, Tư vấn viên cần tập huấn chuyên sâu về tư vấn tâm lý cho bệnh vì tâm lý của bệnh nhân ảnh hưởng đến quá trình điều trị. Khi bệnh nhân thay đổi tâm lý, bệnh nhân có thể sử dụng lại các CDTP. Tập huấn tư vấn từng nhóm bệnh nhân và gia đình để các bệnh nhân và gia đình tự trao đổi và giúp đỡ nhau trong quá trình điều trị.
Bệnh nhân ở độ tuổi từ 20 đến 56 tuổi, độ tuổi từ 30 đến 39 chiếm tỷ lệ cao nhất với 56.8 %; độ tuổi lần đầu sử dụng ma tuý, tuổi thường xuyên sử dụng ma tuý và tuổi chích ma tuý lần đầu của bệnh nhân tham gia nghiên cứu chủ yếu ở độ tuổi 18 đến 29. Kết quả này tương tự kết quả nghiên cứu đánh giá năm 2009 của Bộ Y tế về điều trị thí điểm Methadone tại Hải Phòng và TP. Hồ Chí Minh.
Trong 338 bệnh nhân tham gia nghiên cứu có 01 nữ bệnh nhân nghiện ma túy tham gia điều trị. Mặc dù trên thực tế có một số lượng hàng chục nữ tiêm chích ma túy trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, nhưng họ chưa dám lộ diện để tham gia điều trị Methadone. Đây cũng là tình trạng chung của các Cơ sở điều trị tại Nam Định, Hà Nội, Thái Nguyên…Với các tỉnh/thành phố có thời gian điều trị lâu hơn như Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh thì tỷ lệ nữ cao hơn .
Đa số trình độ học vấn chủ yếu dưới phổ thông trung học (94,1%). Có thể nói học vấn thấp dẫn đến nhận thức về vấn đề sử dụng các chất gây nghiện chưa tốt và công ăn việc làm của bệnh nhân. Trước điều trị chủ yếu là nghề tự do (32,3%), tỷ lệ thất nghiệp (48,3%), có 06 người là cán bộ (1,5%); trong điều trị nghề tự do (45.5%) và thất nghiệp (32.9%); tỷ lệ bệnh nhân có việc làm thấp hơn nhiều so với trên 60% bệnh nhân có việc làm trong nghiên cứu tại Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh năm 2009. Như vậy tỷ lệ thất nghiệp đã giảm xuống, bệnh nhân có việc làm nhiều hơn, tuy nhiên đa phần công việc mà bệnh nhân tham gia thường không ổn định; 01 cán bộ làm công tác đoàn ở phường Tân Sơn bị mất việc do khi tham gia điều trị không đảm đương được công việc hiện tại; 01 người được cơ quan cho nghỉ không hưởng lương; 03 cán bộ khác được cơ quan đồng ý cho tham gia chương trình điều trị Methadone. Điều này cho thấy đã có những nhận thức tích cực về chương trình Methadone của cộng đồng. Tuy nhiên, vẫn còn những rào cản nhất định đối với những người nghiện ma túy đang làm việc tại các cơ quan muốn tham gia chương trình.
Sau 1 năm điều trị tỷ lệ bệnh nhân còn tiếp tục sử dụng ma tuý giảm còn trên 17%, bệnh nhân chỉ còn sử dụng từ 1-2 lần/tháng so với trước điều trị là trung bình 60 lần/tháng với liều sử dụng đã giảm hơn nhiều. Số bệnh nhân đã từng sử dụng chung bơm kim tiêm khi tiêm chích chiếm tỷ lệ 29.25%, kết quả này có thể giải thích có tới 17.5% bệnh nhân nhiễm HIV trong tổng số bệnh nhân tham gia điều trị.
Liều Methadone trung bình từ 5 mg đến 210 mg/người/ngày; liều điều trị trung bình của nhóm bệnh nhân có điều trị ARV thường trên 100mg/ngày nhưng liều trung bình của nhóm không điều trị ARV chỉ dao động ở mức dưới 60mg/ngày. Nhóm bệnh nhân được điều trị ARV có NVP có liều điều trị Methadone cao hơn so với các bệnh nhân nghiện ma túy khác với cùng điều kiện về độ dung nạp, thời gian nghiện…vì NVP có tác dụng làm giảm nồng độ Methadone trong máu. Kết quả này phù hợp với hướng dẫn điều trị Methadone của Bộ Y tế.
Sau 12 tháng điều trị không phát hiện trường hợp nhiễm HIV mới trong số bệnh nhân âm tính khi mới bắt đầu điều trị. Có thể nói đây là thành công trong việc phòng lây nhiễm HIV của chương trình điều trị thay thế.
Sức khỏe của nhiều bệnh nhân được cải thiện, có bệnh nhân tăng đến 20 kg sau 12 tháng điều trị. Có thể giải thích khi uống Methdone bệnh nhân không còn sử dụng ma tuý, họ ăn ngủ điều độ hơn, do đó sức khoẻ của họ tăng lên; bệnh nhân quan tâm đến chính bản thân, đến gia đình và xã hội. Điều này cho thấy hiệu quả điều trị thay thế bằng thuốc Methadone làm thay đổi cuộc sống của bệnh nhân.
Tỷ lệ bệnh nhân ổn định liều có tham gia công việc giúp đỡ gia đình đạt 82%. Tất cả các gia đình bệnh nhân đều nhận thấy kinh tế gia đình ổn định hơn khi bệnh nhân không còn sử dụng các CDTP. Tỷ lệ có hành vi vi phạm pháp luật trước điều trị 35,4%, sau 12 tháng điều trị giảm xuống 1,3%. Hầu hết bệnh nhân đều cho rằng: những người nghiện các CDTP được điều trị Methadone họ không còn sử dụng ma tuý, do đó không còn các hành vi phạm tội liên quan đến ma tuý, giảm áp lực về tội phạm ma tuý đối với xã hội.
Nhu cầu điều trị Methadone cho người nghiện ma tuý trên địa bàn thành phố là rất lớn. Theo ước tính sô người nghiện CDTP trên toàn tỉnh là 5.420 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý và trên 10 huyện có số người nghiện trên 250. Do đó, mở rộng chương trình để người nghiện ma tuý tham gia là rất cần thiết.

KẾT LUẬN
Đa phần bệnh nhân (83%) giảm và dừng sử dụng các CDTP; trên 90% tăng sức khoẻ; làm thay đổi cuộc sống của bệnh nhân, bệnh nhân đã quan tâm đến bản thân và gia đình; giảm tỷ lệ tội phạm liên quan đến ma tuý. Mở rộng thêm mô hình điều trị là cần thiết. Đào tạo thêm về phối hợp điều trị ARV, Lao và Methadone; về tư vấn tâm lý và định hướng việc làm cho bệnh nhân và gia đình.

Từ khoá: Nghiện chích ma túy, lây nhiễm HIV/AIDS, điều trị thay thế, chất dạng thuốc phiện, Methadone, Thanh Hóa, bệnh nhân, nghiện chích ma túy.

Hoàng Bình Yên*; Lê Trường Sơn*; Nguyễn Bá Cẩn*; Nguyễn Văn Nhu*;
Phan Thu Hương**; Phạm Hoàng Anh*

 


TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Bộ Y tế (2010), Quyết định số 3140/QĐ-BYT ngày 30/8/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành Hướng dẫn điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone và Hướng dẫn tổ chức thực hiện.
2. Bộ Y tế (2009), Đánh giá mô hình triển khai thí điểm điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Hoàng Đình Cảnh ,Nguyễn Thanh Long (2009), "Bước đầu đánh giá kết quả triến khai thí điểm điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại Việt Nam", Y học Việt Nam, 356(1), pp. tr. 6 - 10.
5. Cục phòng chống HIV/AIDS ,Trường Đại học Y tế Công cộng (2008), Chương trình phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam, Nhà xuất bản Y học.
6. Quốc hội (2006), Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) ngày 12 tháng 7 năm 2006.
7. Sở Y tế Thanh Hóa (2010), Báo cáo hoạt động phòng, chống HIV/AIDS năm 2009 của Thanh Hóa.
8. Tổ chức Sức khoẻ Gia đình Quốc tế biên dịch (2008), Sổ tay thông tin điều trị Methadone cho bệnh nhân.
9. Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Thanh Hóa (2011) Báo cáo hoạt động phòng, chống HIV/AIDS năm 2010
10. Nguyễn Minh Tuấn, Trần Viết Nghị, Nguyễn Viết Thiêm ,Nguyễn Kim Việt (2004), "Áp dụng điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại Viện Sức khoẻ tâm thần", Y học thực hành, 487(9), pp. tr. 40 - 44.
11. UỶ ban Quốc gia phòng chống AIDS và phòng chống tệ nạn ma tuý mại dâm. Bộ Y tế (2007), Chương trình hành động Quốc gia can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV giai đoạn 2007 - 2010, Hà Nội, 2007.
12. Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa (2012) Kế hoạch số 31/KH-UBND ngày 25/4/2012 triển khai chương trình điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone tại Thanh Hóa, giai đoạn 2012-2015.

Tiếng Anh
13. Andrew Siara, Sorensen James L., Guydish Joseph, Dulucchi Kevin ,Greenberg Brian (2005), "Klowledge and Attitudes about Methadone maitenance among staff working in a therapeutic commity", Maintenance in the Addictions, 3(1), pp. 47 - 58.
14. Neaigus Alan, Mingfang Zao, Anna Gyarmathy V. , Cisek Linda, FriedmanSamuel R. ,Baxter Robert C. (2008), "Greater drug injecting risk for HIV, HBV, and HCV infection in a city where syringe exchange ang pharmacy syringe distribution are illegal", Bulletin of the New York Academy of Medicine, 85(3), pp. 309 - 322.
15. Pelet Anne, Bessn Jacques, Pecoud Alain ,Favrat Bernard (2005), "Difficulties associated with outpatient management of drug abusers by general practitioners. A cross-sectional survey of general practitioners with and without methadone patients in Switzerland", BMC Family Practice, 6(51), pp. 1 - 7.
16. Peterson James A., Schwartz Robert P., Mitchell Shannon Gwin, Reisinger Heather Schacht, Kelly Sharon M., O'Grady Kevin E., Brown Bary S. ,Agar Michael H. (2010), "Why don't out-of-treament individual enter methadone treatment programs?" Int J Drug Policy, 21(1), pp. 36 - 42.

 


  Chia sẻ: Share on Facebook Google Share on LinkHay Share on Go Share on Zing


Thông báo
Thông tin truyền thông
Hình ảnh hoạt động
Liên kết website