Chào mừng đến với trang thông tin điện tử Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS Thanh Hóa - Chúc mừng ngày 27/2!
số lượt truy cập
1922
Hôm nay: 41
Số người trực tuyến: 10
Đánh giá một số kết quả điều trị thay thế chất dạng thuốc phiện bằng Methadone từ 5/2011-5/2012
Cập nhật lúc: 04:20 PM ngày 11/12/2018
TÓM TẮT Qua 1 năm triển khai, chương trình điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện (CDTP) bằng Methadone (MMT) của tỉnh Thanh Hoá đã và đang thu hút sự ủng hộ và quan tâm của lãnh đạo, nhân dân và cũng đặt ra nhu cầu cần mở rộng điều trị trên toàn tỉnh. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả của chương trình điều trị thay thế CDTP bằng thuốc Methadone cho người nghiện ma túy tại thành phố Thanh Hóa từ tháng 5/2011 đến tháng 5/2012 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả, kết hợp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính trên 338 bệnh nhân trong giai đoạn ổn định liều, người hỗ trợ trực tiếp bệnh nhân, cán bộ y tế điều trị trực tiếp cho bệnh nhân. Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ bệnh nhân nhiễm HIV, HBV, HCV là 15%, 70%, 10% với lúc vào điều trị và trong điều trị không thay đổi. Kết quả điều trị bước đầu khá khích lệ và thể hiện ở các khía cạnh khác nhau từ việc duy trì thời gian điều trị, tuân thủ uống thuốc

ĐẶT VẤN ĐỀ: Thanh Hóa là một trong những tỉnh có số người nhiễm HIV cao so với các tỉnh khác trong cùng khu vực. Từ ca nhiễm HIV đầu tiên phát hiện năm 1995 tại huyện Đông Sơn, đến hết tháng 3/2012 cộng tích lũy người nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn toàn tỉnh là 5.760; trong đó có 3.063 người chuyển sang giai đoạn AIDS và 954 người đã tử vong do AIDS; 65,5% trong tổng số người nhiễm HIV là do tiêm chích ma túy, chủ yếu là các chất dạng thuốc phiện (CDTP).
Chương trình điều trị thay thế CDTP bằng Methadone được triển khai tại Thanh Hóa từ tháng 5/2011. Qua 1 năm hoạt động, việc triển khai một đánh giá đầu tiên dựa trên số liệu sẵn có từ việc chỉ đạo, điều phối và triển khai chương trình là điều cần thiết trong việc lên kế hoạch đầu tư và duy trì điều trị bằng MMT trong tương lai ở tỉnh Thanh Hóa.
Mục tiêu của nghiên cứu:
1. Mô tả thực trạng tổ chức thực hiện điều trị thay thế Methadone.
2. Đánh giá một số chỉ số sức khỏe, thể chất, tâm thần, hành vi, xã hội và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cắt ngang mô tả: Định lượng kết hợp định tính và hồi cứu các hồ sơ bệnh án của 338 bệnh nhân đang tham gia điều trị, 16 cán bộ y tế và 32 người hỗ trợ bệnh nhân.
KẾT QUẢ
Cơ sở điều trị nằm trong khuôn viên và được Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Thanh Hoá (TTPC HIV/AIDS) chỉ đạo và hỗ trợ. Tại Cơ sở điều trị, hiện có 16 cán bộ, trong đó có 4 cán bộ kiêm nhiệm và 12 toàn thời gian. Nguồn nhân lực và một phần chi phí vận hành hiện tại hỗ trợ từ dự án WB. Thuốc Methadone bệnh nhân uống hàng ngày là từ chương trình PEPFAR. Cơ sở điều trị có các phòng tiếp đón, khám, tư vấn, xét nghiệm theo qui định và cũng có cơ hội liên kết với các dịch vụ điều trị ARV, tư vấn và xét nghiệm tự nguyện.
Bệnh nhân tiếp cận chương trình điều trị qua các nguồn thông tin là bạn bè, ti vi, qua mạng internet, hội phụ nữ, người nhà đi tìm hiểu. Một số bệnh nhân tham gia những đợt đầu điều trị, họ chưa biết hiệu quả của chương trình nên vào uống thử.
Lứa tuổi chủ yếu (trên 80%) tham gia điều trị là từ 20-39 tuổi; đa phần là nam giới, có 1 nữ nghiện ma tuý tham gia điều trị; trình độ học vấn đa phần (94,1%) là dưới phổ thông trung học. Trước điều trị bệnh nhân đa phần là thất nghiệp và làm nghề tự do, tỷ lệ thất nghiệp gần 50%; có 6 cán bộ tham gia điều trị. Tại thời điểm nghiên cứu tỷ lệ thất nghiệp đã giảm trên 16%, lao động tự do tăng lên 13%, số cán bộ tham gia điều trị giảm 1 do bị mất việc.
Tuổi lần đầu sử dụng ma tuý, tuổi thường xuyên sử dụng và tuổi chích lần đầu tập trung ở nhóm từ 18 đến dưới 30; Sử dụng chung bơm kim tiêm khi chích chiếm gần 30% trong nhóm bệnh nhân.
Tỷ lệ bệnh tật HIV (17,5%), tỷ lệ Viêm gan B (10%) và Viêm gan C (69 %); tỷ lệ bệnh nhân được điều trị ARV trong quá trình điều trị (72,9%). Sau 12 tháng điều trị không phát hiện trường hợp nhiễm HIV mới trong số bệnh nhân âm tính khi mới bắt đầu điều trị.
Tỷ lệ bỏ trị (18,7%), lý do chính của bỏ trị: bị bắt đi cai nghiện tập trung(11 %); bị bắt giam do vi phạm pháp luật (58 %), bệnh nhân tử vong do các nhiễm trùng cơ hội trên bệnh nhân AIDS giai đoạn cuối(7,3%); chuyển nơi sinh sống (12,7%); không rõ nguyên nhân (11 %). Tỷ lệ bệnh nhân bỏ uống thuốc trong ngày có sự dao động từ 5% lên gần 12%, lý do chính của nhóm bệnh nhân này là do điều kiện công việc không về kịp giờ uống thuốc hoặc nhà quá xa điểm điều trị…
Đến thời điểm nghiên cứu chưa thấy có hiện tượng quá liều xảy ra. Liều Methadone từ 5 mg đến 245 mg/người/ngày. Liều điều trị trung bình của nhóm bệnh nhân có điều trị ARV 95mg/ngày nhưng liều trung bình của nhóm không điều trị ARV chỉ dao động ở mức dưới 60mg/ngày.
Tỷ lệ bệnh nhân còn tiếp tục sử dụng ma tuý giảm từ 100% xuống 17,3%. Điểm đặc biệt đáng chú ý là trong nhóm bệnh nhân vẫn còn sử dụng heroin trong quá trình điều trị thì tần suất và số lượng sử dụng đã giảm rất nhiều so với trước điều trị (bệnh nhân sử dụng từ 1-2 lần/tháng so với trước điều trị là trung bình 60 lần/tháng với liều sử dụng đã giảm hơn nhiều). Trước điều trị có khoảng 30% bệnh nhân có sử dụng chung bơm kim tiêm, sau 12 tháng điều trị không còn hiện tượng này. Tỷ lệ bệnh nhân có hành vi quan hệ tình dục không an toàn giảm từ 30,1% đến 7%.
Tỷ lệ bệnh nhân có triệu chứng của trầm cảm giảm từ 75% trước điều trị còn 5% sau 12 tháng; cân nặng tăng từ 1-20 kg/ bệnh nhân. Tỷ lệ bệnh nhân có việc làm ổn định tăng từ 26% tăng lên 52,4% tổng số bệnh nhân tham gia điều trị. Tỷ lệ bệnh nhân ổn định liều có tham gia công việc giúp đỡ gia đình đạt 82%.
Cải thiện kinh tế gia đình bệnh nhân: Kết quả phỏng vấn sâu người hỗ trợ bệnh nhân (HTBN) “Trước kia mỗi một ngày các cháu sử dụng mấy trăm, một tháng cộng lại thì mấy triệu liền, bây giờ thì khác rồi, nhà nước cho các cháu uống thuốc mà không mất tiền, đấy là cái điều quí lắm” (Người HTBN, nam, 62 tuổi).
Môi trường nơi có nhiều bệnh nhân điều trị thay đổi tích cực, nhất là về mặt trật tự xã hội, giảm tỷ lệ vi phạm pháp luật trong số những người tham gia chương trình. Tỷ lệ bệnh nhân có hành vi vi phạm pháp luật trước điều trị 35,4%, sau 12 tháng điều trị giảm xuống 1,3%. Kêt quả phỏng vấn sâu bệnh nhân “Đầu óc thanh thản, không cần phải suy nghĩ đến tiền nữa, nên không phạm tội” là ý kiến được đưa ra từ hầu hết bệnh nhân.
BÀN LUẬN
Cơ sở điều trị Methadone hoạt động theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Nhân lực được tập huấn và có số lượng đầy đủ theo quyết định phê duyệt triển khai thí điểm điều trị nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone. Đảm bảo để Cơ sở hoạt động khám bệnh, tư vấn và cấp phát thuốc cho bệnh nhân hàng ngày.
Để điều trị cho bệnh nhân được tốt hơn bác sỹ cần tập huấn chuyên sâu về kỹ năng điều trị Methadone cho bệnh nhân đang điều trị ARV hoặc đang điều trị lao, Tư vấn viên cần tập huấn chuyên sâu về tư vấn tâm lý cho bệnh vì tâm lý của bệnh nhân ảnh hưởng đến quá trình điều trị. Khi bệnh nhân thay đổi tâm lý, bệnh nhân có thể sử dụng lại các CDTP. Tập huấn tư vấn từng nhóm bệnh nhân và gia đình để các bệnh nhân và gia đình tự trao đổi và giúp đỡ nhau trong quá trình điều trị.
Bệnh nhân ở độ tuổi từ 20 đến 56 tuổi, độ tuổi từ 30 đến 39 chiếm tỷ lệ cao nhất với 56.8 %; độ tuổi lần đầu sử dụng ma tuý, tuổi thường xuyên sử dụng ma tuý và tuổi chích ma tuý lần đầu của bệnh nhân tham gia nghiên cứu chủ yếu ở độ tuổi 18 đến 29. Kết quả này tương tự kết quả nghiên cứu đánh giá năm 2009 của Bộ Y tế về điều trị thí điểm Methadone tại Hải Phòng và TP. Hồ Chí Minh.
Trong 338 bệnh nhân tham gia nghiên cứu có 01 nữ bệnh nhân nghiện ma túy tham gia điều trị. Mặc dù trên thực tế có một số lượng hàng chục nữ tiêm chích ma túy trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, nhưng họ chưa dám lộ diện để tham gia điều trị Methadone. Đây cũng là tình trạng chung của các Cơ sở điều trị tại Nam Định, Hà Nội, Thái Nguyên…Với các tỉnh/thành phố có thời gian điều trị lâu hơn như Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh thì tỷ lệ nữ cao hơn .
Đa số trình độ học vấn chủ yếu dưới phổ thông trung học (94,1%). Có thể nói học vấn thấp dẫn đến nhận thức về vấn đề sử dụng các chất gây nghiện chưa tốt và công ăn việc làm của bệnh nhân. Trước điều trị chủ yếu là nghề tự do (32,3%), tỷ lệ thất nghiệp (48,3%), có 06 người là cán bộ (1,5%); trong điều trị nghề tự do (45.5%) và thất nghiệp (32.9%); tỷ lệ bệnh nhân có việc làm thấp hơn nhiều so với trên 60% bệnh nhân có việc làm trong nghiên cứu tại Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh năm 2009. Như vậy tỷ lệ thất nghiệp đã giảm xuống, bệnh nhân có việc làm nhiều hơn, tuy nhiên đa phần công việc mà bệnh nhân tham gia thường không ổn định; 01 cán bộ làm công tác đoàn ở phường Tân Sơn bị mất việc do khi tham gia điều trị không đảm đương được công việc hiện tại; 01 người được cơ quan cho nghỉ không hưởng lương; 03 cán bộ khác được cơ quan đồng ý cho tham gia chương trình điều trị Methadone. Điều này cho thấy đã có những nhận thức tích cực về chương trình Methadone của cộng đồng. Tuy nhiên, vẫn còn những rào cản nhất định đối với những người nghiện ma túy đang làm việc tại các cơ quan muốn tham gia chương trình.
Sau 1 năm điều trị tỷ lệ bệnh nhân còn tiếp tục sử dụng ma tuý giảm còn trên 17%, bệnh nhân chỉ còn sử dụng từ 1-2 lần/tháng so với trước điều trị là trung bình 60 lần/tháng với liều sử dụng đã giảm hơn nhiều. Số bệnh nhân đã từng sử dụng chung bơm kim tiêm khi tiêm chích chiếm tỷ lệ 29.25%, kết quả này có thể giải thích có tới 17.5% bệnh nhân nhiễm HIV trong tổng số bệnh nhân tham gia điều trị.
Liều Methadone trung bình từ 5 mg đến 210 mg/người/ngày; liều điều trị trung bình của nhóm bệnh nhân có điều trị ARV thường trên 100mg/ngày nhưng liều trung bình của nhóm không điều trị ARV chỉ dao động ở mức dưới 60mg/ngày. Nhóm bệnh nhân được điều trị ARV có NVP có liều điều trị Methadone cao hơn so với các bệnh nhân nghiện ma túy khác với cùng điều kiện về độ dung nạp, thời gian nghiện…vì NVP có tác dụng làm giảm nồng độ Methadone trong máu. Kết quả này phù hợp với hướng dẫn điều trị Methadone của Bộ Y tế.
Sau 12 tháng điều trị không phát hiện trường hợp nhiễm HIV mới trong số bệnh nhân âm tính khi mới bắt đầu điều trị. Có thể nói đây là thành công trong việc phòng lây nhiễm HIV của chương trình điều trị thay thế.
Sức khỏe của nhiều bệnh nhân được cải thiện, có bệnh nhân tăng đến 20 kg sau 12 tháng điều trị. Có thể giải thích khi uống Methdone bệnh nhân không còn sử dụng ma tuý, họ ăn ngủ điều độ hơn, do đó sức khoẻ của họ tăng lên; bệnh nhân quan tâm đến chính bản thân, đến gia đình và xã hội. Điều này cho thấy hiệu quả điều trị thay thế bằng thuốc Methadone làm thay đổi cuộc sống của bệnh nhân.
Tỷ lệ bệnh nhân ổn định liều có tham gia công việc giúp đỡ gia đình đạt 82%. Tất cả các gia đình bệnh nhân đều nhận thấy kinh tế gia đình ổn định hơn khi bệnh nhân không còn sử dụng các CDTP. Tỷ lệ có hành vi vi phạm pháp luật trước điều trị 35,4%, sau 12 tháng điều trị giảm xuống 1,3%. Hầu hết bệnh nhân đều cho rằng: những người nghiện các CDTP được điều trị Methadone họ không còn sử dụng ma tuý, do đó không còn các hành vi phạm tội liên quan đến ma tuý, giảm áp lực về tội phạm ma tuý đối với xã hội.
Nhu cầu điều trị Methadone cho người nghiện ma tuý trên địa bàn thành phố là rất lớn. Theo ước tính sô người nghiện CDTP trên toàn tỉnh là 5.420 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý và trên 10 huyện có số người nghiện trên 250. Do đó, mở rộng chương trình để người nghiện ma tuý tham gia là rất cần thiết.
KẾT LUẬN
Đa phần bệnh nhân (83%) giảm và dừng sử dụng các CDTP; trên 90% tăng sức khoẻ; làm thay đổi cuộc sống của bệnh nhân, bệnh nhân đã quan tâm đến bản thân và gia đình; giảm tỷ lệ tội phạm liên quan đến ma tuý. Mở rộng thêm mô hình điều trị là cần thiết. Đào tạo thêm về phối hợp điều trị ARV, Lao và Methadone; về tư vấn tâm lý và định hướng việc làm cho bệnh nhân và gia đình.

Từ khoá: Nghiện chích ma túy, lây nhiễm HIV/AIDS, điều trị thay thế, chất dạng thuốc phiện, Methadone, Thanh Hóa, bệnh nhân, nghiện chích ma túy.

Hoàng Bình Yên*; Nguyễn Bá Cẩn*; Nguyễn Văn Nhu*;
Vũ Huy Hoàng**; Phạm Hoàng Anh*

 


TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Bộ Y tế (2010), Quyết định số 3140/QĐ-BYT ngày 30/8/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành Hướng dẫn điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone và Hướng dẫn tổ chức thực hiện.
2. Bộ Y tế (2009), Đánh giá mô hình triển khai thí điểm điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Hoàng Đình Cảnh ,Nguyễn Thanh Long (2009), "Bước đầu đánh giá kết quả triến khai thí điểm điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại Việt Nam", Y học Việt Nam, 356(1), pp. tr. 6 - 10.
5. Cục phòng chống HIV/AIDS ,Trường Đại học Y tế Công cộng (2008), Chương trình phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam, Nhà xuất bản Y học.
6. Quốc hội (2006), Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) ngày 12 tháng 7 năm 2006.
7. Sở Y tế Thanh Hóa (2010), Báo cáo hoạt động phòng, chống HIV/AIDS năm 2009 của Thanh Hóa.
8. Tổ chức Sức khoẻ Gia đình Quốc tế biên dịch (2008), Sổ tay thông tin điều trị Methadone cho bệnh nhân.
9. Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Thanh Hóa (2011) Báo cáo hoạt động phòng, chống HIV/AIDS năm 2010
10. Nguyễn Minh Tuấn, Trần Viết Nghị, Nguyễn Viết Thiêm ,Nguyễn Kim Việt (2004), "Áp dụng điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại Viện Sức khoẻ tâm thần", Y học thực hành, 487(9), pp. tr. 40 - 44.
11. UỶ ban Quốc gia phòng chống AIDS và phòng chống tệ nạn ma tuý mại dâm. Bộ Y tế (2007), Chương trình hành động Quốc gia can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV giai đoạn 2007 - 2010, Hà Nội, 2007.
12. Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa (2012) Kế hoạch số 31/KH-UBND ngày 25/4/2012 triển khai chương trình điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone tại Thanh Hóa, giai đoạn 2012-2015.

Tiếng Anh
13. Andrew Siara, Sorensen James L., Guydish Joseph, Dulucchi Kevin ,Greenberg Brian (2005), "Klowledge and Attitudes about Methadone maitenance among staff working in a therapeutic commity", Maintenance in the Addictions, 3(1), pp. 47 - 58.
14. Neaigus Alan, Mingfang Zao, Anna Gyarmathy V. , Cisek Linda, FriedmanSamuel R. ,Baxter Robert C. (2008), "Greater drug injecting risk for HIV, HBV, and HCV infection in a city where syringe exchange ang pharmacy syringe distribution are illegal", Bulletin of the New York Academy of Medicine, 85(3), pp. 309 - 322.
15. Pelet Anne, Bessn Jacques, Pecoud Alain ,Favrat Bernard (2005), "Difficulties associated with outpatient management of drug abusers by general practitioners. A cross-sectional survey of general practitioners with and without methadone patients in Switzerland", BMC Family Practice, 6(51), pp. 1 - 7.
16. Peterson James A., Schwartz Robert P., Mitchell Shannon Gwin, Reisinger Heather Schacht, Kelly Sharon M., O'Grady Kevin E., Brown Bary S. ,Agar Michael H. (2010), "Why don't out-of-treament individual enter methadone treatment programs?" Int J Drug Policy, 21(1), pp. 36 - 42.

 


  Chia sẻ: Share on Facebook Google Share on LinkHay Share on Go Share on Zing

Thông báo
Thông tin truyền thông
Hình ảnh hoạt động
Liên kết website